Nhãn hiệu phi truyền thống (Kỳ 2)

CategoriesBản tin chuyên ngành
  1. Nhãn hiệu màu sắc (color marks)

Nhãn hiệu truyền thống có thể cũng là những nhãn hiệu được cấu tạo từ màu sắc, sự khác biệt nằm ở chỗ trong khi nhãn hiệu truyền thống sẽ bao gồm màu sắc, họa tiết và các từ ngữ đi kèm hoặc màu sắc là sự thể hiện của họa tiết và từ ngữ thì nhãn hiệu phi truyền thống là loại nhãn hiệu bao gồm hoặc chỉ một hoặc nhiều màu sắc sử dụng trên một sản phẩm cụ thể, nếu nhãn hiệu màu sắc sử dụng cho dịch vụ thì màu sắc đó được sử dụng trên tất cả hoặc một phần của các vật liệu được sử dụng trong quảng cáo hoặc việc cung cấp dịch vụ. Theo pháp luật của Mỹ, nhãn hiệu màu sắc để đăng ký được thì chủ sở hữu phải chứng minh được nhãn hiệu đã đạt được khả năng phân biệt thông qua quá trình sử dụng. Khi đăng ký, phần “mô tả nhãn hiệu” phải thể hiện được vị trí xuất hiện của màu sắc/tổ hợp các màu sắc và màu sắc/tổ hợp các màu sắc được sử dụng như thế nào trên hàng hóa hoặc trong mối liện hệ với các dịch vụ. Đồng thời, chủ sở hữu phải nộp một mẫu vật thể hiện việc sử dụng màu sắc đăng ký.

 2. Nhãn hiệu hình ba chiều (hologram/three-dimensional marks – 3D marks)

Giống như nhãn hiệu màu sắc, bản thân nhãn hiệu hình ba chiều không có khả năng phân biệt, để có thể được bảo hộ, chủ sở hữu phải cung cấp được bằng chứng hình ba chiều có chức năng như một nhãn hiệu và được công chúng coi như là một chỉ dẫn nguồn gốc hàng hóa.

Nhãn hiệu hình ba chiều cũng dễ bị thẩm định viên nhãn hiệu (trademark examiners) từ chối vì mỗi một hình chiếu của sản phẩm có thể là một nhãn hiệu riêng và việc đăng ký nhãn hiệu hình ba chiều không chỉ để đăng ký một nhãn hiệu.

 3. Nhãn hiệu chuyển động (motion/moving image marks)

Theo pháp luật của Hoa Kỳ, nhãn hiệu có thể chứa hoặc bao gồm các yếu tố chuyển động và việc nộp đơn đăng ký giống như đăng ký một nhãn hiệu thông thường. Khi nộp đơn đăng ký nhãn hiệu chuyển động chủ sở hữu phải cung cấp 5 hình ảnh thể hiện các điểm khác nhau trong quá trình chuyển động và đồng thời phải mô tả sự chuyển động đó diễn ra như thế nào. Ví dụ “Nhãn hiệu chứa hình ảnh chuyển động của một ánh đèn flash, từ đó tia sáng xuất hiện trên nền bầu trời và mây. Màn hình cuối cùng hiện ra một người phụ nữ đang đứng trên bệ và cầm ngọn đuốc. Từ “COLUMBIA” chạy ngang màn hình xuyên qua ngọn đuốc và một hình cầu vồng tròn xuất hiện trên bầu trời vòng quanh người phụ nữ” là mô tả trong đăng ký nhãn hiệu của COLUMBIA PICTURE TELEVISION; hoặc “nhãn hiệu chứa một chuyển động độc đáo trong đó cửa của phương tiện được mở ra. Cánh cửa di chuyển song song với thân xe nhưng dần dần được nâng lên cao hơn tới một vị trí song song với nhau” là mô tả trong đơn đăng ký nhãn hiệu là chuyển động của cánh cửa xe Lamborghini của LAMBOGHINI S.P.A.

4. Nhãn hiệu vị trí (position marks)

Bạn có ngạc nhiên không khi pháp luật của Hoa Kỳ bảo hộ cả một dấu hiệu đặt ở một vị trí nhất định nếu nó tạo ra được một ấn tượng thương mại riêng biệt đối với khách hàng và đạt được khả năng phân biệt. Đó là trường hợp của Levi Strauss & Co, theo đó Cơ quan Sáng chế và nhãn hiệu Hoa Kỳ (USPTO) đã bảo hộ cho nhãn hiệu là một nhãn hoặc mác gắn ở bên bên ngoài miếng vải ở phần túi hông. Rõ ràng là nhãn mác thông thường sẽ được gắn ở phần đường chỉ bên hông thay vì gắn ở túi, Levi Strauss & Co làm khác đi là gắn ở nhãn mác ở chỗ khác và họ được bảo hộ cho nhãn hiệu vị trí này.

5. Nhãn hiệu âm thanh (sound marks)

Được coi là nhãn hiệu phi truyền thống song nhãn hiệu âm thanh được USPTO thừa nhận và bảo hộ cách đây rất lâu. Có thể kể ra nhãn hiệu âm thanh được bảo hộ như: tiếng sư tử gầm của hãng phim Metro Goldwyn Meyer (MGM); âm thanh là giọng người đang hát từ âm trầm ngân lên âm cao từ YAHOO của hãng YAHOO. Trên thực tế có những âm thanh bị từ chối đăng ký là một nhãn hiệu như tiếng động cơ của Harley – Davidson do các đối thủ cạnh tranh của Harley – Davidson cho rằng tiếng động cơ này không có gì đặc biệt và mang tính chức năng của động cơ.

6. Nhãn hiệu mùi (scent/smell/odor marks)

Cũng giống như các nhãn hiệu phi truyền thống khác, nhãn hiệu mùi chỉ được thừa nhận khi nó không mang tính chức năng, và đồng thời phải chứng minh được khả năng phân biệt thông qua quá trình sử dụng. Mùi hương hoa sẽ không được coi là nhãn hiệu cho mùi nước hoa xịt phòng nhưng lại có thể được thừa nhận nếu nó đăng ký cho sản phẩm dầu nhớt. USPTO đã đăng ký cho dấu hiệu “mùi anh đào” sử dụng cho sản phẩm “dầu nhờn tổng hợp cho xe phân khối lớn và xe dã ngoại”, “mùi nho” cho sản phẩm “dầu nhờn và nhiên liệu động cơ cho phương tiện mặt đất, máy bay và tàu thuyền”. Dấu hiệu mùi “hương hoa, tươi, mạnh, gợi nhớ tới hương hoa sứ” cho sản phẩm “sợi dùng để may váy và sợi thêu” là dấu hiệu mùi hương đầu tiên được USPTO thừa nhận và cấp đăng ký với tư cách là một nhãn hiệu.

7. Nhãn hiệu xúc giác (tough marks)

Nhãn hiệu xúc giác là nhãn hiệu có khả năng phân biệt dựa trên cảm nhận bằng việc chạm, sờ vào sản phẩm. Nhãn hiệu xúc giác đầu tiên trên thế giới được đăng ký là “bề mặt thủy tinh nứt của chai rượu whishkey Old Parr”. Giống như các nhãn hiệu phi truyền thống khác, nhãn hiệu xúc giác phải không mang tính chức năng và phải có khả năng phân biệt, ví dụ như nhãn hiệu xúc giác là chai rượu vang có một lớp nhung phủ trên bề mặt chai rượu, khi người tiêu dùng chạm vào chai rượu này sẽ có một cảm giác khác biệt khi chạm vào các chai rượu cùng loại khácz

8. Nhãn hiệu vị giác (taste marks)

Việc chứng minh khả năng phân biệt của một nhãn hiệu vị giác rất khó khăn, bởi bản thân vị của sản phẩm phải gắn với chính sản phẩm đó. Làm thế nào người tiêu dùng có thể lựa chọn sản phẩm thông qua vị sản phẩm (không dựa trên các dấu hiệu khác) nếu như sản phẩm luôn được đóng gói trong bao bì? Và thêm vào đó, vị của sản phẩm không mang tính chức năng. Thực tế, “vị cam” đăng ký cho sản phẩm dược phẩm dùng cho người, cụ thể là thuốc chống trầm cảm đã bị từ chối cấp đăng bạ do cơ quan đăng ký kết luận rằng vị cam là một đặc điểm mang tính chức năng của sản phẩm.

Cho dù bất kỳ dấu hiệu nào (truyền thống hay phi truyền thống, nhìn thấy được hay không nhìn thấy được) được thừa nhận là nhãn hiệu thì nó phải thực hiện được chức năng của nhãn hiệu, trong đó có hai chức năng đặc biệt quan trọng là chức năng phân biệt và chức năng chỉ dẫn nguồn gốc hàng hóa dịch vụ. Phần lớn các dấu hiệu này ngay bản thân chúng ban đầu không có khả năng phân biệt (không thực hiện được chức năng đầu tiên), chúng phải đợi thời gian chứng minh qua quá trình sử dụng. Điều này có thể được dễ dàng áp dụng ở Hoa Kỳ nơi áp dụng hệ thống pháp luật thực định (common law). Sẽ là một thách thức rất lớn cho Việt Nam khi tham gia sân chơi chung của cộng đồng quốc tế khi mà ý thức tôn trọng bản quyền của các tổ chức cá nhân vẫn đang còn rất hạn chế.