Cơ chế pháp lý mới đối với các kết quả của nhiệm vụ khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo sử dụng ngân sách nhà nước từ ngày 01/10/2025

Hệ thống pháp luật Việt Nam về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo (KHCN&ĐMST) đã có những bước tiến lớn nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và đưa kết quả nghiên cứu vào ứng dụng thực tiễn. Trọng tâm của quá trình này là việc quản lý quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) là kết quả từ các nhiệm vụ khoa học và công nghệ (KH&CN) sử dụng ngân sách nhà nước, cụ thể là đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp và thiết kế bố trí mạch tích hợp. Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi năm 2022 đã đặt nền móng quan trọng để bảo vệ lợi ích Nhà nước đối với những loại tài sản trí tuệ thu được từ nhiệm vụ KH&CN sử dụng ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, từ ngày 01/10/2025, các quy định này đã bị bãi bỏ theo khoản 7 Điều 71 Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo số 93/2025/QH15 (Luật KHCN&ĐMST). Hãy cùng tìm hiểu nguyên nhân của sự chuyển đổi cơ chế pháp lý này.

Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi năm 2022: Thiết lập cơ sở pháp lý ban đầu

Một trong các điểm nổi bật trong Luật SHTT sửa đổi năm 2022 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2023) là việc bổ sung các điều khoản mới liên quan đến sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí là kết quả của nhiệm vụ KH&CN sử dụng ngân sách nhà nước, nhằm khắc phục các khoảng trống trong quản lý quyền SHTT thu được từ nhiệm vụ KH&CN sử dụng ngân sách nhà nước. Các quy định chính được bổ sung bao gồm:

Điều 86a – Quyền đăng ký sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí là kết quả của nhiệm vụ KH&CN sử dụng ngân sách nhà nước:

– Tổ chức chủ trì có quyền đăng ký một cách tự động và không bồi hoàn, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này.

– Trong trường hợp có nhiều nguồn vốn và có phần vốn từ ngân sách nhà nước thì quyền đăng ký tương ứng tỷ lệ ngân sách nhà nước.

– Nhà nước giữ quyền ưu tiên đăng ký đối với trường hợp nhiệm vụ khoa học và công nghệ thuộc lĩnh vực quốc phòng và an ninh quốc gia.

Điều 133a – Quyền của Nhà nước đối với các đối tượng SHTT là kết quả của nhiệm vụ KH&CN sử dụng ngân sách nhà nước:

– Nhà nước có quyền thu hồi, chuyển giao quyền đăng ký nếu tổ chức chủ trì không đăng ký theo quy định hoặc từ chối đăng ký theo quy định.

– Cho phép sử dụng không cần sự đồng ý của chủ sở hữu vì lợi ích công cộng (quốc phòng, y tế, ứng phó khẩn cấp) hoặc khi không khai thác, nhưng chỉ bồi thường phần không dùng ngân sách nhà nước.

Điều 135.2 – Thù lao cho tác giả:

Chủ sở hữu quyền SHTT phải trả tác giả:

– 10-15% lợi nhuận trước thuế từ khai thác trực tiếp, và

– 15-20% doanh thu từ chuyển giao quyền sử dụng.

Điều 136a – Nghĩa vụ của tổ chức chủ trì đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí là kết quả của nhiệm vụ KH&CN sử dụng ngân sách nhà nước:

– Thông báo cơ quan Nhà nước trong 30 ngày kể từ khi có kết quả SHTT,

– Nộp đơn đăng ký trong 6 tháng kể từ ngày thông báo,

– Trả thù lao cho tác giả theo Điều 135.2, và

– Quản lý lợi nhuận, thực hiện quyền SHTT, bảo vệ tài sản và báo cáo hàng năm.

Điều 139.6 – Chuyển nhượng quyền đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí là kết quả của nhiệm vụ KH&CN sử dụng ngân sách nhà nước:

– Chỉ được chuyển nhượng cho tổ chức, cá nhân Việt Nam

– Bên nhận chuyển nhượng phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của tổ chức chủ trì trước đó.

Rõ ràng là những quy định này nhằm thống nhất quyền của Nhà nước với tư cách nhà đầu tư công, khuyến khích ứng dụng thực tiễn và hỗ trợ Chiến lược phát triển KH&CN quốc gia đến năm 2030.

Việc bãi bỏ các quy định đã được bổ sung vào Luật SHTT sửa đổi năm 2022: Tích hợp và loại bỏ chồng chéo

Luật KHCN&ĐMST (có hiệu lực từ 01/10/2025) thay thế hoàn toàn Luật KH&CN năm 2013. Theo quy định tại khoản 7 Điều 71 của Luật này, các Điều 86a, 133a, 135.2, 136a, 139.6 của Luật SHTT sửa đổi năm 2022 nêu trên đã bị bãi bỏ. Các nội dung tương ứng của các điều này đã được chuyển và tích hợp vào Chương II Luật KHCN&ĐMST cùng Nghị định 267/2025/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết.

Các quy định được chuyển sang Luật KHCN&ĐMST mở rộng phạm vi áp dụng không chỉ cho các đối tượng thuộc sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí như ở Luật SHTT sửa đổi năm 2022, mà còn cho tất cả kết quả nhiệm vụ KHCN&ĐMST, bao gồm cả những kết quả không đáp ứng tiêu chuẩn để đăng ký bảo hộ quyền SHTT. Các nội dung liên quan bao gồm:

Điều 25 – Quyền quản lý, sử dụng, quyền sở hữu kết quả nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo:

– Tổ chức, cá nhân góp vốn sở hữu theo tỷ lệ đóng góp (trừ khi có thỏa thuận khác).

– Tổ chức chủ trì tự động sở hữu kết quả từ ngân sách nhà nước (không phải bồi thường), trừ dự án quốc phòng, do nước ngoài chủ trì hoặc nhiệm vụ đặt hàng.

– Nhà nước có quyền thu hồi kết quả sử dụng 100% ngân sách nhà nước nếu vì lợi ích công cộng hoặc không sử dụng trong 3 năm.

Điều 26 – Kiểm soát chuyển giao kết quả nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo sử dụng ngân sách nhà nước cho tổ chức, cá nhân nước ngoài:

– Chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền quản lý, sử dụng kết quả đó theo quy định của pháp luật, trong đó khi chuyển ra nước ngoài phải tuân thủ Luật Chuyển giao công nghệ.

– Kết quả công nghệ cao phải công khai trên Cổng thông tin quốc gia ít nhất 12 tháng, và ưu tiên tổ chức, cá nhân trong nước trước khi chuyển giao ra nước ngoài.

– Chuyển dữ liệu tuân thủ Luật Dữ liệu.

Điều 27 – Thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo:

– Chủ sở hữu tự quyết định việc thương mại hóa (hình thức, phương án, giá, phân chia lợi nhuận). Nếu có đồng sở hữu, phải thỏa thuận trước.

– Phải minh bạch, chống thất thoát, báo cáo định kỳ và chịu giám sát phòng chống tham nhũng.

Điều 28 – Phân chia lợi nhuận từ thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo:

– Ít nhất 30% lợi nhuận dành cho tác giả.

– Phần còn lại dùng thưởng cho cá nhân có đóng góp trực tiếp vào hoạt động tổ chức thương mại hóa, tái đầu tư KH&CN hoặc mục đích khác.

Nghị định 267/2025/NĐ-CP (gồm 7 chương, 57 điều) hướng dẫn chi tiết về các quy định liên quan đến nhiệm vụ KH&CN và đổi mới sáng tạo được quy định trong Luật KHCN&ĐMST.

Vì sao cần chuyển các quy định về kết quả từ nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước từ Luật SHTT sang Luật KHCN&ĐMST?

Việc chuyển các quy định về kết quả từ nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước từ Luật SHTT sang Luật KH&CN&ĐMST là cần thiết để: 

– Loại bỏ chồng chéo, phân tán quy định: Luật SHTT sửa đổi năm 2022 chỉ tập trung bảo hộ SHTT, chưa quản lý toàn diện các kết quả KH&CN. Việc duy trì các quy định ở Luật SHTT đồng thời đưa ra các quy định tương tự trong Luật KH&CN&ĐMST sẽ dẫn đến mâu thuẫn và thiếu thống nhất so với khung pháp lý chuyên sâu hơn của Luật KHCN&ĐMST.

– Tập trung quản lý vào luật chuyên ngành: Không phải mọi kết quả KH&CN đều có thể đăng ký bảo hộ quyền SHTT. Theo đó, Luật KHCN&ĐMST phù hợp hơn để điều chỉnh toàn bộ kết quả KHCN&ĐMST đa dạng, do cơ quan chuyên trách quản lý (không chỉ ở Cục SHTT).

– Tăng tính linh hoạt, khuyến khích đổi mới: Các khung thời hạn cứng nhắc liên quan việc đăng ký sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí là kết quả của nhiệm vụ KH&CN sử dụng ngân sách nhà nước trong Luật SHTT sửa đổi năm 2022 có thể kìm hãm sáng tạo. Khung pháp lý mới được quy định trong Luật KHCN&ĐMST cho phép quản lý linh hoạt hơn, tạo môi trường thuận lợi cho đổi mới nhưng vẫn có sự giám sát của Nhà nước.

Kết luận

Việc chuyển từ các quy định rời rạc trong Luật SHTT sang khung pháp lý tập trung, hướng đổi mới của Luật KHCN&ĐMST là bước tiến chiến lược trong chính sách KH&CN Việt Nam. Điều này tối ưu hóa nguồn lực công, trao quyền tự chủ lớn hơn cho tổ chức chủ trì đồng thời vẫn bảo vệ lợi ích Nhà nước. Các tổ chức, nhà nghiên cứu và doanh nghiệp trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo Việt Nam cần nhanh chóng nắm bắt các quy định mới để tuân thủ và tận dụng tối đa cơ hội thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học kỹ thuật và đổi mới sáng tạo./.

Đỗ Tuyết Nhung

Phòng Sáng chế

INVESTIP – IP LAW FIRM

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *