KIỂU DÁNG CÔNG NGHIỆP
CÂU HỎI THƯỜNG GẶP VỀ KIỂU DÁNG CÔNG NGHIỆP
Theo Khoản 13 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ (SHTT), kiểu dáng công nghiệp là hình dáng bên ngoài của toàn bộ hoặc một phần của sản phẩm dưới dạng vật lý hoặc phi vật lý, được thể hiện bằng hình khối, đường nét, màu sắc hoặc sự kết hợp những yếu tố này và nhìn thấy được trong quá trình khai thác công dụng của sản phẩm.
Theo đó, kiểu dáng công nghiệp có thể bao gồm:
(i) Kiểu dáng của toàn bộ sản phẩm hoặc một phần của sản phẩm (kiểu dáng riêng phần);
(ii) Kiểu dáng của sản phẩm dưới dạng vật lý hoặc phi vật lý (ví dụ: giao diện đồ họa, hình ảnh hiển thị).
Sản phẩm được hiểu như sau:
a) Sản phẩm vật lý là các đối tượng tồn tại dưới dạng vật chất hữu hình như đồ vật, dụng cụ, thiết bị, phương tiện, được sản xuất bằng phương pháp công nghiệp hoặc thủ công nghiệp, có kết cấu và chức năng rõ ràng;
b) Sản phẩm phi vật lý là các đối tượng không tồn tại dưới dạng vật chất hữu hình, được tạo ra thông qua việc chiếu hoặc hiển thị một kiểu dáng lên bề mặt hoặc vào môi trường (bao gồm cả không khí) và có chức năng thực tế để vận hành, tương tác hoặc thực hiện nhiệm vụ cụ thể;
c) Một phần của sản phẩm là phần trên sản phẩm mà người nộp đơn yêu cầu bảo hộ, bao gồm phần tách rời được và phần không tách rời được;
d) Phần tách rời được của sản phẩm là bộ phận sản phẩm có khả năng lưu thông độc lập dùng để lắp ráp, hợp thành sản phẩm nếu được đăng ký một cách độc lập, cũng được gọi chung là sản phẩm trừ những quy định riêng.
Sau khi nộp đơn kiểu dáng và được cấp văn bằng bảo hộ (“bằng”), thì chủ bằng có quyền ngăn cấm người khác sử dụng kiểu dáng đó. Theo đó, chủ bằng được độc quyền sử dụng kiểu dáng và thu được lợi nhuận từ sự độc quyền này. Về cơ bản là có quyền ngăn cấm các hành vi:
a) Sản xuất sản phẩm có hình dáng bên ngoài là kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ;
b) Lưu thông, quảng cáo, chào hàng, tàng trữ để lưu thông sản phẩm quy định tại điểm a) nêu trên;
c) Nhập khẩu sản phẩm quy định tại điểm a) nêu trên; và
d) Lưu thông bản sao kỹ thuật số của sản phẩm phi vật lý có hình dáng bên ngoài hoặc một phần hình dáng bên ngoài là kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ.
Người nộp đơn là chủ thể (tổ chức/cá nhân) sở hữu kiểu dáng công nghiệp và do đó có quyền nộp đơn kiểu dáng. Khi bằng được cấp thì Người nộp đơn sẽ là chủ sở hữu của văn bằng. Theo Điều 86 của Luật SHTT thì tổ chức, cá nhân sau đây có quyền đăng ký kiểu dáng:
a) Tác giả tạo ra kiểu dáng công nghiệp bằng công sức và chi phí của mình;
b) Tổ chức, cá nhân đầu tư kinh phí, phương tiện vật chất cho tác giả dưới hình thức giao việc, thuê việc, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác.
* Trường hợp nhiều tổ chức, cá nhân cùng nhau tạo ra hoặc đầu tư để tạo ra kiểu dáng thì các tổ chức, cá nhân đó đều có quyền đăng ký và quyền đăng ký đó chỉ được thực hiện nếu được tất cả các tổ chức, cá nhân đó đồng ý.
* Người có quyền đăng ký quy định tại Điều này có quyền chuyển giao quyền đăng ký cho tổ chức, cá nhân khác dưới hình thức hợp đồng bằng văn bản, để thừa kế hoặc kế thừa theo quy định của pháp luật, kể cả trường hợp đã nộp đơn đăng ký.
c) Tổ chức được giao quyền quản lý, sử dụng, quyền sở hữu kết quả của nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo sử dụng ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo có quyền đăng ký kiểu dáng công nghiệp là kết quả của nhiệm vụ đó.
Theo Điều 64 Luật SHTT thì các đối tượng sau đây không được bảo hộ với danh nghĩa kiểu dáng công nghiệp:
- Hình dáng bên ngoài của sản phẩm do đặc tính kỹ thuật của sản phẩm bắt buộc phải có. Những đặc điểm, hình khối, đường nét bên ngoài của sản phẩm được quyết định bởi chính chức năng kỹ thuật của sản phẩm. Ví dụ: Hình xoắn ốc của mũi khoan, Hình dáng dẹt, phẳng của đĩa CD… không được bảo hộ với danh nghĩa kiểu dáng công nghiệp.
- Hình dáng bên ngoài của công trình xây dựng dân dụng hoặc công nghiệp: hình dáng bên ngoài của công trình xây dựng dân dụng hoặc công nghiệp không được bảo hộ với danh nghĩa kiểu dáng công nghiệp vì không thể tạo ra hàng loạt công trình xây dựng dân dụng giống nhau hoàn toàn từ hình dáng cho đến những gì thuộc về bên trong nó như trang thiết bị, nguyên vật liệu, nó chỉ có giá trị thẩm mỹ thuần túy không thỏa mãn được yêu cầu ứng dụng trong công nghiệp.
- Hình dáng của sản phẩm không nhìn thấy được trong quá trình sử dụng sản phẩm. Ví dụ: Động cơ xe máy. Vì kiểu dáng công nghiệp bắt buộc phải là hình dáng bên ngoài của sản phẩm và mang đặc tính mỹ thuật, hình dáng của sản phẩm không nhìn thấy được trong quá trình sử dụng như động cơ xe máy sẽ không được bảo hộ.
Theo Điều 63 của Luật SHTT thì kiểu dáng công nghiệp chỉ được bảo hộ nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau đây:
– Có tính mới trên phạm vi thế giới, nghĩa là chưa từng được bộc lộ công khai ở bất kỳ nơi nào trên thế giới, dưới hình thức công bố hoặc sử dụng.
– Có tính sáng tạo, nghĩa là kiểu dáng công nghiệp đó không thể được tạo ra một cách dễ dàng đối với người có hiểu biết trung bình về lĩnh vực tương ứng.
– Có khả năng áp dụng công nghiệp, nghĩa là có khả năng dùng làm mẫu để chế tạo lặp đi lặp lại hàng loạt sản phẩm có kiểu dáng giống hệt bằng phương pháp công nghiệp hoặc thủ công nghiệp.
-
Theo Khoản 4 Điều 65 của Luật SHTT, kiểu dáng công nghiệp không bị coi là mất tính mới nếu được công bố trong các trường hợp sau đây với điều kiện đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp được nộp trong thời hạn sáu tháng kể từ ngày công bố:
– Kiểu dáng công nghiệp bị người khác công bố nhưng không được phép của người có quyền đăng ký;
– Kiểu dáng công nghiệp được người có quyền đăng ký hoặc người có được thông tin về kiểu dáng công nghiệp một cách trực tiếp hoặc gián tiếp từ người đó bộc lộ công khai.
Kể từ ngày được Cục Sở hữu trí tuệ tiếp nhận, đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp được xem xét theo trình tự sau:
– Thẩm định hình thức: 01 tháng
– Công bố đơn: trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp được coi là hợp lệ
– Thẩm định nội dung: 05 tháng kể từ ngày công bố đơn.
Trên thực tế, các thời hạn nêu trên thường kéo dài hơn.
Theo quy định tại Điều 60 Thông tư số 10/2026/TT-BKHCN, Trước khi Cục Sở hữu trí tuệ ra quyết định cấp hoặc từ chối cấp Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp, người nộp đơn có thể chủ động hoặc trên cơ sở thông báo kết quả thẩm định để sửa đổi, bổ sung các tài liệu trong đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp.
Việc sửa đổi, bổ sung đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp không được mở rộng phạm vi (khối lượng) bảo hộ đã bộc lộ trong bộ ảnh chụp, bản vẽ và bản mô tả nêu trong đơn và không được làm thay đổi bản chất của đối tượng kiểu dáng công nghiệp nêu trong đơn.
Nói cách khác, đối tượng thể hiện trong bộ ảnh chụp, bản vẽ và bản mô tả mới phải không khác biệt đáng kể với đối tượng được thể hiện trong bộ ảnh chụp, bản vẽ và bản mô tả ban đầu.
Việc bổ sung kiểu dáng công nghiệp của sản phẩm mới vào đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp cho bộ sản phẩm làm mở rộng phạm vi bảo hộ đã bộc lộ trong bản mô tả và bộ ảnh chụp/bản vẽ ban đầu, do đó không được chấp nhận theo quy định tại Điều 60.4 Thông tư số 10/2026/TT-BKHCN.
Mỗi đơn kiểu dáng công nghiệp chỉ được yêu cầu cấp một văn bằng bảo hộ cho một kiểu dáng công nghiệp, tuy nhiên, đơn có thể yêu cầu cấp một Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp cho nhiều kiểu dáng công nghiệp trong các trường hợp sau đây:
– Yêu cầu bảo hộ kiểu dáng công nghiệp của nhiều sản phẩm trong một bộ sản phẩm, trong đó mỗi sản phẩm có một kiểu dáng công nghiệp tương ứng. Các sản phẩm trong bộ sản phẩm phải thể hiện ý tưởng sáng tạo chung duy nhất, được sử dụng cùng nhau hoặc để thực hiện chung một mục đích;
– Yêu cầu bảo hộ một kiểu dáng công nghiệp của một sản phẩm kèm theo một hoặc nhiều phương án biến thể của kiểu dáng công nghiệp đó. Phương án đầu tiên phải là phương án cơ bản. Các phương án biến thể của một kiểu dáng công nghiệp phải không khác biệt đáng kể với phương án cơ bản và không khác biệt đáng kể với nhau.
Trước khi Cục Sở hữu trí tuệ ra quyết định cấp hoặc từ chối cấp Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp, người nộp đơn có thể chủ động hoặc trên cơ sở thông báo kết quả thẩm định của Cục Sở hữu trí tuệ để tách một hoặc một số kiểu dáng công nghiệp trong đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp đã nộp (gọi là đơn ban đầu) sang một hoặc nhiều đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp mới (gọi là đơn tách). Việc tách đơn kiểu dáng công nghiệp thường được thực hiện đối với đơn kiểu dáng công nghiệp có nhiều phương án và các kiểu dáng theo các phương án này được coi là khác biệt đáng kể với nhau. (Các) đơn tách mang số đơn mới và được lấy ngày nộp đơn của đơn ban đầu hoặc các ngày ưu tiên của đơn ban đầu (nếu có).
Có. Theo Khoản 13 Điều 4 Luật SHTT, kiểu dáng công nghiệp là hình dáng bên ngoài của toàn bộ hoặc một phần của sản phẩm dưới dạng vật lý hoặc phi vật lý, được thể hiện bằng hình khối, đường nét, màu sắc hoặc sự kết hợp những yếu tố này và nhìn thấy được trong quá trình khai thác công dụng của sản phẩm.
Theo đó, kiểu dáng công nghiệp có thể bao gồm kiểu dáng một phần của sản phẩm (kiểu dáng riêng phần).
Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp được gia hạn nhiều nhất 02 lần liên tiếp, mỗi lần 05 năm.
Để được gia hạn hiệu lực Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp, trong vòng 06 tháng trước ngày Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp hết hiệu lực, chủ Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp phải nộp đơn yêu cầu gia hạn cho Cục Sở hữu trí tuệ.
Đơn yêu cầu gia hạn có thể nộp muộn hơn thời hạn quy định nêu trên nhưng không được quá 06 tháng kể từ ngày văn bằng bảo hộ hết hiệu lực và chủ văn bằng bảo hộ phải nộp lệ phí gia hạn cộng với 10% lệ phí gia hạn cho mỗi tháng nộp muộn.